Đăng Nhập | Đăng Ký
By xunetvn | 18:26 - 01/03/2013 | 866 views
Bênh đường sinh dục nam
Chia Sẻ:Facebook | Twitter | Print

Bênh lây nhiễm qua đường sinh dục nam.

Bệnh lây nhiễm qua đường sinh dục ở nam giới

Sơ lược về những bệnh lây nhiễm qua đường tình dục

Bệnh lây nhiễm qua đường tình dục có thể lây truyền qua việc giao hợp, hôn, quan hệ tình dục bằng miệng, và cùng dùng những dụng cụ tình dục.

Bên cạnh việc kiêng cữ, sử dụng những màng chắn như bao cao su trong suốt quá trình quan hệ tình dục (dù không hiệu quả 100%) nhưng là cách tốt nhất ngăn những bệnh lây qua đường sinh dục.

Những vết loét ở miệng, cơ quan sinh dục thường nhất do herpes, hạ cam mềm, giang mai, và hột xoài..

Nhiễm giang mai có thể có triệu chứng như: những vết loét ở miệng, cơ quan sinh dục, sốt, nổi mẫn ngứa ở da, hoặc những thay đổi của những tổn thương thần kinh từ hoàn toàn lú lẫn đến đột quị.

Chlamydia và lậu có thể lây truyền một mình hoặc kết hợp và gây ra viêm niệu đạo mà bệnh nhân có cảm giác nóng khi đi tiểu và rỉ dịch ở lỗ sáo.

HIV gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải được lây truyền qua đường máu, quan hệ tình dục, và thường liên quan với 1 hoặc hơn nữa những bệnh lây qua đường sinh dục khác.

HPV gây ra những mụn sùi ở cơ quan sinh dục, và liên quan đến ung thư trực tràng ở nam.

Vieem gan virus B chủ yếu lây truyền qua đường sinh dục trong khi Viêm gan virusC chủ yếu lây qua đường máu.

HHV-8 mới được nhận biết là virus lây qua đường tình dục và liên quan với Kaposi” sarcoma (u da ít gặp) và có thể là lymphoma (u mô lympho).

Chấy công cộng và cái ghẻ là những côn trùng nhỏ lây lan từ da qua da.

Bệnh lây truyền qua đường tình dục là gì và làm cách nào để ngăn ngừa sự lây lan của nó ?

– Bệnh lây truyền qua đường tình dục là những nhiễm trùng được lây nhiễm trong bất kỳ kiểu tiếp xúc sinh dục nào bao gồm giao hợp (âm đạo hoặc hậu môn), đường miệng, và dùng chung dụng cụ sinh dục như cần rung. Một số bệnh lây truyền qua đường tình dục là do nhiễm trùng lây qua việc tiếp xúc da – da gần và lâu bao gồm thời gian khoái cảm tình dục.

Mặc dù đa số bệnh lây truyền qua đường tình dục đều cần phải điều trị, nhưng cũng có những bệnh không điều trị được là HIV, HPV, VGvirusB, C và HHV-8. Nhiều bệnh nhiễm có thể tồn tại và lây lan nhưng không gây triệu chứng.

– Cách tốt nhất ngăn ngừa việc lây lan bệnh lây truyền qua đường tình dục là kiêng cữ . Sử dụng đúng cách và thường

xuyên những dụng cụ phòng ngừa như bao cao su trong suốt thời gian quan hệ tình dục để phòng ngừa lây lan của những bịnh này. Dù thế nhưng vẫn không bảo đảm hoàn toàn sự lây nhiễm.

Thật sự là việc ngăn ngừa gieo rắc bệnh lây truyền qua đường tình dục phụ thuộc trên những lời khuyên thích hợp đối với những người nguy cơ, việc chẩn đoán sớm và điều trị những nhiễm trùng này.

Trong bài này, bệnh lây truyền qua đường tình dục được phân thành ba nhóm chính:

1,Bệnh lây truyền qua đường tình dục liên quan đến những tổn thương sinh dục.

2,Bệnh lây truyền qua đường tình dục liên quan với viêm niệu đạo.

3,Bệnh lây truyền qua đường tình dục tác động toàn thân.

Tuy nhiên hãy chú ý rằng một số bệnh liên quan đến những tổn thương sinh dục (giang mai) hoặc niệu đạo (lậu) cũng có liên quan đến toàn thân

Bệnh liên quan với những tổn thương sinh dục

Hạ cam mềm

Herpes sinh dục

Bệnh hột xoài

Giang mai

Papillomavirus ở người (HPV)

Những bệnh liên quan đến viêm niệu đạo

Ghlamydia

Bệnh lậu

Hạ cam mềm

1. Hạ cam mềm là gì ?

Nó là nhiễm trùng được thấy đầu tiên trong những vùng da tiếp xúc sinh dục. Nhiễm trùng xuất hiện điển hình ở dương vật, vùng hậu môn và quanh miệng. Săng bắt đầu như một khối phồng lên mềm khởi phát sau 3-10 ngày có tiếp xúc sinh dục với người bệnh. Sau đó nó vỡ ra thành vết loét đau. Thường nó cũng gây mềm hạch (hạch lympho) như ở bẹn với nốt phồng lên hoặc loét ở dương vật.

2. Hạ cam mềm được chẩn đoán như thế nào ?

Chẩn đoán thường cấy chỗ vết loét để xác định vi khuẩn gây bệnh, Hemophilus ducreii. Chẩn đoán lâm sàng (hỏi bệnh sử và khám lâm sàng) được xác định khi bệnh nhân có hơn một vết loét đau mà không có bằng chứng để nói nó do bệnh giang mai hoặc herpes.

Chẩn đoán lâm sàng là có thể quyết định điều trị ngay cả cấy âm tính. Một cách tình cờ từ chacroid giống từ chancre là một chỗ loét không đau có trong bịnh giang mai. Chancroid đôi khi được gọi là chancre mềm để phân biệt chúng từ săng giang mai – là sang thương cứng.

3. Hạ cam mềm được điều trị như thế nào ?

Nó luôn luôn được điều trị hết với một liều duy nhất 1gam azithromycin (Zinthromax) hoặc một liều tiêm ceftriaxone (Rocephin). Những thuốc khác là iprofloxacin (cipro) 500mg uống 2 lần trong ngày và trong 3 ngày hoặc erythromycin 500mg uống 4 lần ngày trong 7 ngày. Khi có điều trị thì những sang thương loét hết trong 7 ngày. Nếu không cải thiện trong 7 ngày điều trị thì nên xem lại, để có chẩn đoán những nguyên nhân khác của loét.

Những người nhiễm HIV có nhiều nguy cơ thất bại điều trị. Nhưng cũng cần theo dõi để bảo đảm bệnh nhân có điều trị.

4. Người ta nên làm gì khi tiếp xúc với người mắc hạ cam mềm ?

Cần đến khám y tế khi có tiếp xúc sinh dục với người bi hạ cam mềm. Dù người tiếp xúc có hay không có vết loét thì cũng nên điều trị nếu lỡ tiếp xúc với người có vết loét. Hơn nữa, nếu có quan hệ nhưng sau 10 ngày người kia mới có vết loét cũng nên điều trị dù ở thời điểm tiếp xúc người kia không có loét.

Herpes sinh dục

1. Herpes sinh dục là gì và làm thế nào để ngăn ngừa việc lây lan ?

Herpes sinh dục là nhiễm virus gây ra mụn rộp trên những vết của vùng da tiếp xúc sinh dục. Hai loại herpes virus liên quan với những thương tổn sinh dục là : herpes simplex virus-1 (HSV-1) và herpes simplex virus -2 (HSV-2).HSV-1 thường gây ra mụn rộp ở miệng trong khi HSV-2 thường gây ra đau sinh dục hoặc những tổn thương trong những vùng quanh hậu môn.

Khoảng 3-7 ngày sau khi tiếp xúc với herpes, một số người có thể có nhiễm trùng nhẹ hoặc không và rồi tự khỏi. Một số người khác có thể có những đợt phồng da đau , có kèm theo sốt và nhức đầu. Một khi đã nhiễm herpes , thì thường kéo dài và được đặc trưng bằng những đợt bùng phát. Ðợt bùng phát xảy ra vì dạng HSV tiềm ẩn được kích hoạt. Tỉ lệ những đợt bùng phát xuất hiện khác nhau tùy từng cá nhân.

Nó thường liên quan với những stress hoặc những nhiễm trùng khác. Nó cũng thường xảy ra trong những người bị suy giảm miễn dịch như nhiễm HIV. Nó thường được đặc trưng bằng những cụm mụn rộp da đau nhẹ đến trung bình ở những vùng da bị nhiễm. Tái phát thường tự hết với những chỗ phồng da biến mất trong 5 ngày. Tuy nhiên, HSV ở những người nhiễm HIV có thể nặng hơn, thường gây ra loét hơn là phồng da và kéo dài.

Người ta ước tính khoảng 45 triệu người Mỹ nhiễm HSV-2. Herpes sinh dục chỉ lây qua tiếp xúc trực tiếp giữa người với người. Những tổn thương herpes thường thấy ở những người đàn ông trong thời kỳ bệnh bột phát, khi ấy việc lây nhiễm có khả năng xảy ra nhiều nhất.

2. Herpes được chẩn đoán như thế nào ?

Chẩn đoán herpes dựa trên sự xuất hiện một chùm mụn rộp da, nhỏ, đau trên vùng sinh dục hoặc quanh hậu môn.

Chẩn đoán xác định dựa trên việc cấy virus. Mẫu cấy được lấy trên những chỗ phồng bị bể bằng cách phết vào đáy chỗ loét và gởi que gòn đến phòng thí nghiệm.

Thử máu có thể xác định kháng thể HSV để xem người đó có nhiễm HSV hay không. Kháng thể là những protein được sản xuất ra từ cơ thể trong việc giúp bảo vệ chống lại virus này. Tuy nhiên, kháng thể không thể xác định những tổn thương mới xảy ra là do herpes hay không. Vì thế test này ít có giá trị trong chẩn đoán herpes sinh dục.

3. Người bị nhiễm herpes sinh dục nên biết điều gì ?

Những người nhiễm herpes sinh dục cần ý thức được rằng bịnh không thể chữa khỏi hoàn toàn, sẽ có những đợt tái phát và việc lây nhiễm có thể xảy ra dù không có tổn thương nhìn thấy. Những người bị nhiễm cần thông báo cho người bạn tình của mình là mình bị nhiễm HSV. Không chỉ cần tránh quan hệ tình dục trong thời kỳ mụn nước xuất hiện mà còn trong giai đoạn thấy ngứa vùng da liên quan (trước khi bùng phát). Vì HSV có thể lây lan trong trong suốt thời kỳ không có triệu chứng, do đó cần phải dùng bao cao su hoặc những dụng cụ bảo vệ sinh dục khác trong quá trình giao hợp với người nhiễm herpes.

Ðối với những trường hợp này thì bao cao su luôn được dùng ngay cả khi người này không cần thiết ngừa thai hay phòng những bệnh lây qua đường sinh dục khác.

Cuối cùng, bệnh nhân nên hiểu được vai trò rất giới hạn của việc điều trị chống virus trong giai đoạn bùng phát đầu tiên và sau đó, đồng thời điều trị ức chế nhằm ngăn ngừa tái phát ở những bịnh nhân thường xuyên bị tái phát.

4. Herpes sinh dục được điều trị như thế nào ?

– Một vài loại thuốc được dùng để điều trị nhiễm HSV. Mặc dù có thuốc thoa lên sang thương, nhưng ít hiệu quả và không được sử dụng thường xuyên. Thuốc dùng đường uống hoặc đường tĩnh mạch (trong những trường hợp nặng) hiệu quả hơn. Tuy nhiên, bệnh nhân cần hiểu là không có thuốc chữa khỏi bệnh này mà chỉ dùng thuốc để giảm mức độ, thời gian của những đợt bùng phát.

– Vì nhiễm HSV lần đầu thường có xu hướng bọc phát nặng. Nên thường được khuyến cáo điều trị thuốc chống virus. Ngược lại, những đợt tái phát thường nhẹ nên thuốc chỉ có lợi khi được điều trị trước khi bệnh phát sinh hoặc trong vòng 24 giờ sau khi có triệu chứng. Ðể tốt cho những bệnh nhân bị tái phát thì thuốc được cho bệnh nhân trong giai đoạn phát triển.

Bệnh nhân được chỉ dẫn bắt đầu điều trị ngay khi có cảm giác ngứa quen thuộc trước khi bệnh bùng phát hoặc ở giai đoạn bắt đầu có sự hình thành mụn nước. Cuối cùng, điều trị ức chế nên dùng để ngăn ngừa tái phát khi có hơn 6 lần tái phát trong một năm.

5.Người ta nên làm gì khi tiếp xúc với người nhiễm herpes sinh dục ?

Những người đã tiếp xúc với người nào đó bị herpes sinh dục thì nên tham vấn để biết triệu chứng của nó, những đợt bùng phát tự nhiên, và làm thế nào để ngăn ngừa mắc phải hoặc lây nhiễm virus trong tương lai. Nếu một người trải qua một đợt bùng phát herpes thì họ nên được xem xét lại toàn bộ và điều trị khi có chỉ định.

Bệnh hột xoài (lymphogranuloma venereum (LGV))

1.LGV là gì ?

LGV là một bịnh không thường gặp trong vùng hậu môn trực tràng hoặc sinh dục được gây ra bởi Chlamydia trachomatis. Bệnh nhân khám bác sĩ với hạch mềm ở vùng bẹn. Những bệnh nhân này thường khai mới đây có vết loét sinh dục và tự hết sau đó.

Ở những bệnh nhân khác, đặc biệt là người nhiễm HIV, có viêm, sẹo và hẹp hậu môn trực tràng thường gây ra tiêu chảy và cảm giác mót rặn. Thêm vào đó, những bệnh nhân này đau quanh hậu môn hoặc chảy dịch từ vùng quanh hậu môn hoặc những tuyến trong vùng bẹn. Hãy chú ý một loại Chlamydia trachomatis khác gây ra viêm niệu đạo có thể phân biệt được bằng xét nghiệm chuyên biệt.

2.LGV được chẩn đoán và điều trị như thế nào ?

– Chẩn đoán LGV được nghi ngờ ở những người có triệu chứng điển hình và sau khi loại ra những chẩn đoán khác là chancroid, herpes, và giang mai. Chẩn đoán thường được làm bằng test máu chuyên biệt giúp phát hiện kháng thể của chlamydia do đáp ứng miễn dịch của cơ thể tạo ra.

– Một khi LGV được chẩn đoán, uống Doxycyclin 100mg 2 lần/ngày/21 ngày. Nếu không dùng được loại này thì thay

bằng Erythromycin base 500mg, 4 lần/ngày/21 ngày.

3.Người ta nên làm gì khi tiếp xúc với người nhiễm LGV ?

-Một người tiếp xúc tình dục với người có nhiễm LGV nên được khám những dấu hiệu, triệu chứng của LGV cũng như nhiễm Chlamydia niệu đạo vì 2 chủng vi trùng này thường cùng tồn tại trong bệnh nhân. Nếu có tiếp xúc tình dục với một người mà người đó khởi phát những triệu chứng của LGV trong vòng 30 ngày, thì nên được điều trị.

Giang mai

1.Giang mai là gì ?

– Giang mai là một bệnh nhiễm trùng do vi Treponema pallidum. Bệnh tiến triển qua 3 giai đoạn hoạt động và một giai đoạn tiềm ẩn. Giai đoạn đầu những vết loét xuất hiện trong những vùng tiếp xúc sinh dục như dương vật, miệng và hậu môn. Những hạch phồng lên không đau thường hiện diện trong vùng có săng như trong vùng bẹn của những bệnh nhân có tổn thương. Vết loét biến mất sau đó, bệnh tái phát lại sau vài tháng như một giang mai thứ phát.

– Giang mai thứ phát là giai đoạn bệnh toàn thân có nghĩa là có tổn thương ở nhiều cơ quan. Vì thế trong giai đoạn này bệnh nhân trải qua nhiều triệu chứng khác nhau mà thường nhất là nổi hồng ban ở da. Thêm vào đó giang mai thứ phát có thể liên quan một cách tiềm ẩn đến bất cứ phần nào của cơ thể như sưng hạch bẹn, cổ, tay, viêm khớp, bệnh lý thận, và những bất thường ở gan. Giai đoạn này nếu không điều trị giang mai có thể tồn tại dai dẳng hoặc biến mất.

– Hậu quả của giang mai thứ phát là bệnh nhân mang mầm bệnh mà không có triệu chứng. Ðây là giai đoạn tiềm ẩn của bệnh. Giai đoạn tiềm ẩn này có thể có hay không và kéo dài hơn 20 năm thì phát triển giai đoạn 3. Ðây cũng là giang mai toàn thân và có thể gây ra nhiều vấn đề bao gồm:

Giãn những mạch máu của tim dẫn đến bệnh lý tim mạch.

Phát triển những nốt lớn trong những cơ quan khác nhau của cơ thể.

Nhiễm trùng não gây ra đột quị hoặc lú lẫn tâm thần.

Liên quan đến mắt dẫn đến giảm thị lực.

Liên quan đến tai dẫn đến điếc.

2. Giang mai được chẩn đoán như thế nào ?

Chẩn đoán săng (giai đoạn nguyên phát) có thể được làm bằng cách xem những chất tiết của vết loét dưới kính hiển vi. Tuy nhiên, cần xem dưới kính hiển vi nền đen để phân biệt được xoắn khuẩn Treponema. Vì kỹ thuật soi này ít khi được dùng nên chẩn đoán và điều trị thường dựa trên sự xuất hiện của săng. Ðối với giang mai giai đoạn II, III chẩn đoán được dựa trên test kháng thể để phát hiện đáp ứng miễn dịch của cơ thể với vi khuẩn Treponema.

Test máu chuẩn tìm giang mai là VDRL. Test này xác định đáp ứng đối với nhiễm trùng nhưng không tìm được nguyên nhân thật sự của nhiễm trùng. Mặc dù những test này rất hiệu quả trong việc phát hiện bằng chứng nhiễm Treponema nhưng nó cũng tạo ra một số dương tính giả. Vì thế bất kỳ test non- treponema nào dương tính thì cũng phải được xác nhận bằng test treponema.

– Cả hai test non-treponema và treponema chỉ dương tính trong khoảng 50% những bịnh nhân có săng làm cho không chắc chắn trong việc chẩn đoán giang mai nguyên phát. Những bệnh nhân ở giai đoạn II, III thì hầu như có test VDRL, RPR cũng như MHA-TP hoặc FTA-ABS dương tính. Một vài tháng sau điều trị những test non-treponema sẽ giảm đến mức không phát hiện hoặc mức thấp. Tuy nhiên những test Treponema thì vẫn dương tính sau đó dù có hay không việc điều trị giang mai.

3. Giang mai được điều trị như thế nào ?

Dựa trên giai đoạn của bệnh, điều trị giang mai được tóm tắt như sau :

Giai đoạn nguyên phát và thứ phát:Benzathine penicillin tiêm bắp, 2,4 triệu đvị
(liều duy nhất) hoặc Doxycycline 100mg,uống 2 lần/ngày /14 ngày.
Tetracycline 500mg uống 4 lần/ngày/14 ngày.

Giai đoạn nhiễm trùng tiềm ẩn (> 1 năm), có bệnh tim mạch, hoặc gôm giang mai:Benzathine penicillin G, tiêm bắp, 4 tr Ðơn vị mỗi tuần khoảng 3 tuần. Hoặc Doxycycline 100mg,uống 2 lần/ngày / 28 ngày.
Tetracycline 500mg uống 4 lần/ngày/28 ngày.

Giai đoạn Giang mai thần kinh:Aqueous crystallinepenicillin G 18-24 tr đv tiêm tĩnh mạch mạch/ngày/10-14 ngày Hoặc Procain penicillin tiêm bắp 2,4 tr đơn vị mỗi ngày cùng với probenecid 500mg uống 4 lần /ngày/10- 14 ngày.

4.Người ta nên làm gì nếu tiếp xúc với người bệnh giang mai ?

Bất cứ ai tiếp xúc tình dục với người có vết loét, hoặc hồng ban giang mai thì có nguy cơ bị nhiễm giang mai cao. Những người tiếp xúc tình dục trong vòng 90 ngày khi người bạn tình được chẩn đoán giang mai giai đoạn đầu, giai đoạn II hoặc tiềm ẩn thì nên được điều trị một trong những cách như đối với giang mai nguyên phát hoặc giai đoạn II.

Nếu tiếp xúc tình dục sau hơn 90 ngày người kia mới bị bệnh giang mai thì nên đi thử test non- treponema. Nếu test này không làm được hoặc khó theo dõi bệnh thì nên điều trị luôn như giang mai giai đoạn I, II. Cuối cùng, những người tiếp xúc tình dục trong thời kỳ lâu dài (trên 1 năm ) mà sau đó có nhiễm giang mai tiềm ẩn, hoặc giai đoạn III thì nên được đánh giá bởi bác sĩ và làm những xét nghiệm về giang mai.

Quyết định điều trị hay không nên dựa vào bệnh nhân có triệu chứng của giang mai giai đoạn I, II, III và những xét nghiệm máu về bịnh giang mai.

Papillomavirus ở người (HPV) hay Sùi mào gà

Có hơn 20 loại HPV gây ra mụn sùi cơ quan sinh dục có thể ảnh hưởng đến cơ quan sinh dục của đàn ông và phụ nữ. Những mụn sùi này được lây truyền qua tiếp xúc sinh dục trực tiếp. Hãy chú ý là có những loại HPV khác có thể gây ra những mụn sùi bất cứ ở đâu của cơ thể. Những mụn sùi ở cơ quan sinh dục thường phẳng, và mềm hơn những mụn gồ ghề, cùng ở những vị trí khác của cơ thể. Những mụn sùi ở cơ quan sinh dục thường nhỏ, có nhiều thịt, phồng nhưng đôi khi cũng lớn, sùi giống bông cải.

Ở những người đàn ông, tổn thương thường ở dương vật, hoặc hậu môn và thường liên quan ung thư hậu môn hơn. Những bệnh nhân nhiễm HIV mà nhiễm thêm HPV thì làm cho nhiễm HPV càng nặng hơn và thường liên quan với ung thư hơn.

2.HPV được điều trị như thế nào ?

-Bước điều trị đầu tiên với mụn sùi cơ quan sinh dục là cắt bỏ thương tổn. Một điều kém may mắn là việc loại bỏ mụn sùi không ngăn được tình trạng lây lan của virus và không bảo đảm tái phát mụn sùi hay không. Không có cách điều trị nào là tuyệt vời cả. Cách điều trị nên dùng là dùng dung dịch 0,5% hoặc gel podofilox. Thuốc được bôi lên sang thương 2 lần/ngày/3 ngày/tuần và sau đó là 4 ngày/tuần. Ðiều trị nên tiếp tục 4 tuần hoặc cho đến khi sang thương biến mất. Cách khác là kem 5% IMIQUIMOD bôi lần / tuần trước khi đi ngủ và sau đó rửa sạch với xà phòng nhẹ. Làm như vậy đến 16 tuần hoặc đến khi sang thương biến mất.

– Chỉ có những nơi có kinh nghiệm mới có thể thực hiện được một số cách để trị những mụn sùi sinh dục. Chẳng hạn như đặt một lượng nhỏ dung dịch podophilin trên tổn thương, sau 1-4 giờ thì rửa sạch podophilin. Ðiều trị như vậy được lặp lại hàng tuần cho đến khi sang thương biến mất. Một dung dịch 80-90% acid trichloroacetic (TCA) cũng có thể được bác sĩ cho dùng hàng tuần. Những phương pháp khác bao gồm điều trị làm lạnh những mụn sùi này với nitơ lỏng mỗi 1 đến 2 tuần hoặc phẫu thuật cắt bỏ tổn thương. Cuối cùng tiêm interferon vào mụn sùi và dùng laser cắt bỏ tổn thương cũng thành công.

3. Người ta nên làm gì khi lỡ tiếp xúc với người có những mụn sùi sinh dục ?

Những người lỡ tiếp xúc sinh dục với những người có mụn sùi sinh dục nên khám bác sĩ. Ðiều quan trọng nhất là bệnh nhân cũng như những người tiếp xúc nên tham vấn để biết nguy cơ lây lan của HPV và sự xuất hiện những tổn thương. Người ta cũng nên hiểu rằng dù không thấy tổn thương nhưng vẫn có thể lây lan và bao cao su không ngăn ngừa hoàn toàn việc nhiễm virus này.

Những bệnh liên quan đến viêm niệu đạo

1.Những nguyên nhân và triệu chứng thường gặp của viêm niệu đạo là gì ?

Niệu đạo là một cái ống trong dương vật giúp dẫn nước tiểu từ bàng quang và phóng tinh. Viêm niệu đạo ở đàn ông là cảm giác bỏng rát khi đi tiểu và những giọt dịch đặc chảy ra từ lỗ sáo. Nguyên nhân thường gặp nhất là vi trùng lậu, Chlamydia trachomatis. Cả 2 nguyên nhân này điều do quan hệ tình dục với người bị bệnh.

Viêm niệu đạo có thể gây biến chứng thêm nữa là viêm tinh hoàn và mào tinh. Những biến chứng này làm cho tinh hoàn mềm và thường là biến chứng nặng. Chẳng hạn như apxe tinh hoàn, cần phải phẫu thuật và có thể dẫn đến vô sinh.

2. Viêm niệu đạo được chẩn đoán như thế nào?

Một người có triệu chứng viêm niệu đạo thì nên đi khám bác sĩ. Ðể đánh giá viêm niệu đạo Bác sĩ yêu cầu xét nghiệm bằng cách nhuộm nước tiểu, hoặc chất dẫn tiết từ niệu đạo hoặc là lấy mẫu nước tiểu buổi sáng. Những mẩu nước tiểu được tìm bằng chứng của viêm như thấy có bạch cầu. Nếu viêm niệu đạo đã được xác định thì nên cố gắng tìm xem có phải do lậu cầu, Chlamydia trachomatis hay không hoặc cả hai.

Hiện tại có một số xét nghiệm chỉ ra vi trùng này bao gồm cấy chất tiết từ niệu đạo hoặc nước tiểu. Những test khác là phát hiện nhanh nhiễm sắc thể của vi khuẩn. Quả thật việc điều trị nên chú ý nguyên nhân. Tuy nhiên nếu không theo dõi được thì nên điều trị cho cả 2 nguyên nhân lậu cầu và Trachomatis khi được chẩn đoán viêm niệu đạo.

Chlamydia

1.Chlamydia là gì ?

Là một bệnh do nhiễm Chlamydia trachomatis. Thường xảy ra ở thanh niên và những đàn ông trẻ có hoạt động sinh dục. Nó gây ra viêm niệu đạo và có thể dẫn đến viêm tinh hoàn và mào tinh. Tuy nhiên, trong những nghiên cứu mới đây xác định một số người cả nam lẫn nữ có thể mang mầm bệnh nhưng không có triệu chứng. Vì thế những người này cần hiểu được mình có thể gieo rắc cho người khác. Do đó, những người có hoạt động tình dục nên được đánh giá đều đặn cho bịnh viêm niệu đạo do chlamydia. Chú ý rằng những loại khác của Chlamydia trachomatis chỉ được nhận biết trong phòng thí nghiệm.

2. Chlamydia được điều trị như thế nào ?

Liều duy nhất nên khuyên dùng vì bảo đảm bệnh nhân sẽ dùng thuốc. Ðó là azithromycin (Zithromax) 1 gam uống. Tuy nhiên, những cách điều trị khác có thể dùng vì thuốc này giá rất cao. Những cách thay đổi thuốc có thể chấp nhận là doxycyclin 100mg, 2 lần/ngày/ 7 ngày; uống hoặc erythromycin 500mg, 4 lần/ngày/7 ngày; hoặc uống ofloxacin (Oflox) 200mg, 2 lần /ngày/ 7 ngày.

Bệnh nhân nên kiêng quan hệ tình dục trong 7 ngày khi điều trị, và chú ý tất cả những tiếp xúc tình dục của họ. Những tiếp xúc sinh dục nên được xem xét đến nhiễm Chlamydia.

– Lý do tái phát của nhiễm Chlamydia thường nhất là do những người bạn tình bị nhiễm không chịu điều trị. Kế đó người bị nhiễm đầu tiên sẽ bị lây lại từ người bạn tình bị nhiễm mà không điều trị. Những lý do khác là không điều trị đủ 7 ngày hoặc dùng erythromycin là loại ít hiệu quả hơn azithromycin hoặc doxycyclin.

Những biến chứng của nhiễm chlamydia là viêm mào tinh hoặc viêm tinh hoàn, điều trị một liều chuẩn như điều trị lậu và trị chlamydia 10 ngày với doxycyclin. Ðối với những trường hợp đó không nên điều trị một liều duy nhất đối với chlamydia.

3. Một người lỡ tiếp xúc với người nhiễm chlamydia nên làm gì ?

Những người mà tiếp xúc với người nhiễm chlamydia nên được đánh giá những triệu chứng của viêm niệu đạo và những xét nghiệm chứng minh có viêm nhiễm. Nếu bị nhiễm nên được điều trị thích hợp. Nhiều bác sĩ khuyên rằng nên điều trị tất cả những người nếu có tiếp xúc tình dục với người kia mà sau đó phát hiện người kia bị nhiễm chlamydia trong vòng 60 ngày.

Bệnh lậu

1. Lậu là gì ?

Lậu là một bệnh lây nhiễm qua đường sinh dục gây ra bởi vi trùng Neisseria gonorrheae. Ở đàn ông thường có triệu chứng của viêm niệu đạo như cảm giác nóng đường tiểu, và chảy dịch ở đầu dương vật. Vi trùng lậu cũng có thể gây ra viêm họng và viêm trực tràng.

Viêm trực tràng thường gây tiêu chảy và chảy dịch ở hậu môn. Nó cũng có thể gây ra viêm mào tinh và tinh hoàn. Hơn thế nữa vi trùng lậu cũng có thể gây ra bịnh toàn thân như đau sưng khớp, hoặc nổi hồng ban ở da. Nhiều bệnh nhân bị lậu cũng bị nhiễm chlamydia.

2. Lậu được chẩn đoán và điều trị như thế nào ?

Lậu được chẩn đoán bằng cách cấy những vùng bị nhiễm như niệu đạo, hậu môn, họng. Ðôi khi những bệnh nhân bị nhiễm vi trùng lậu toàn thân như viêm khớp, hồng ban ở da thì có thể cấy máu.

Ðiều trị những trường hợp lậu không biến chứng thường dùng liều duy nhất chích Ceftriaxone 125mg hoặc uống cefixime (Suprax) 400mg, uống ciprofloxacin (Cipro) 500mg hoặc ofloxacin (oflox) 400mg.

Nhiều bệnh nhân bị lậu sẽ bị nhiễm cùng lúc với chlamydia. Vì thế những bệnh nhân bị lậu nên điều trị thêm chlamydia với việc uống liều duy nhất azithromycin 1gam hoặc doxycyclin 100 mg 2 lần/ngày/7 ngày. Viêm họng do lậu thì điều trị như trên ngoại trừ không dùng cefixime (Suprax).

Nhiễm vi trùng lậu toàn thân liên quan đến da và/hoặc khớp thì được điều trị hoặc là hằng ngày tiêm bắp 1gam ceftriaxone hoặc tiêm tĩnh mạch cefotaxime, ceftizoxime 1 gam mỗi 8 giờ. Nếu bệnh nhân không cần đưa đến bệnh viện hoặc đủ ổn định để cho về nhà điều trị thì có thể dùng ciprofloxacin 500mg, ofloxacin 400mg hoặc cefixime 400 uống 2 lần trong ngày/14 ngày cùng kết hợp điều trị chlamydia.

3. Người ta nên làm gì khi tiếp xúc với người mắc bệnh lậu ?

Một người tiếp xúc tình dục với người mắc bệnh lậu thì nên đi khám bác sĩ. Nếu tiếp xúc lần cuối cùng trong vòng 60 ngày kể từ khi người kia phát hiện bị lậu thì nên điều trị vừa lậu và vừa chlamydia. Nếu sau 60 ngày mới phát hiện bịnh lậu của người kia thì người nọ chỉ được điều trị khi có triệu chứng hoặc có test máu chẩn đoán dương tính.

Bệnh lây truyền qua đường tình dục có biểu hiện toàn thân:

HIV

HIV là gì ?
HIV là nhiễm virus được lây truyền qua tiếp xúc tình dục, dùng chung kim tiêm hoặc từ mẹ lan sang con. Ða số những người nhiễm sẽ có test kháng thể HIV dương tính trong vòng 12 tuần sau khi tiếp xúc. HIV gây ức chế hệ thống miễn dịch củ cơ thể. Trung bình, thời gian từ lúc nhiễm đến lúc phát triển thành triệu chứng hoặc có biến chứng là 10 năm. Những biến chứng bao gồm nhiễm trùng không bình thường, ung thư, sụt cân và rối loạn trí nhớ.

Khi những triệu chứng của nhiễm HIV nặng thì bệnh được xem như hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS). Nhiều cách điều trị đạt được đối với HIV là giúp bệnh nhân kiểm soát được nhiễm trùng và làm chậm phát triển thành bệnh AIDS.

Viêm gan virus C (VGC )

1. VGC là gì ?

Là bệnh viêm gan do virus viêm gan C (HCV). Nó gây ra viêm gan cấp hoặc mãn. Không giống như VGB, VG C thường không lây qua đường tình dục, vì thế nó không phải là một bệnh thường lây qua đường tình dục. Nó thường lây lan qua việc tiếp xúc máu bị nhiễm như dùng chung kim bị nhiễm, những vật nhọn, tăm, đôi khi dùng chung ống hút cocain bằng mũi.

Ngược lại với VGB phần lớn người nhiễm VGC phát triển thành dạng nhiễm mãn tính. Tuy nhiên, như người bị nhiễm VGB thì người bị nhiễm virus viêm gan C mãn tính có khả năng lây cho người khác và gia tăng nguy cơ bệnh gan nặng và những biến chứng của nó.

2. Nhiễm virus viêm gan C được chẩn đoán như thế nào ?

Nó được chẩn đoán bằng những test kháng thể chuẩn. Kháng thể chỉ ra có sự tiếp xúc virus ở lúc nào đó. Kháng thể viêm gan C được tìm thấy trong suốt thời kỳ viêm gan cấp, sau khi hồi phục từ viêm gan cấp và trong khoảng thời gian viêm gan mãn.

Những người với test kháng thể trong máu dương tính sau đó có thể thử lại tìm bằng chứng nhiễm virus bằng xét nghiệm được gọi là PCR (polymerase chain reaction) giúp phát hiện chất liệu di truyền của virus. PCR hiếm khi được chẩn đoán viêm gan siêu vi C cấp mà thỉnh thoảng có ích trong việc xác nhận viêm gan siêu vi C mãn .

Virus herpes 8 ở người (HHV-8)

HHV-8 là gì ?

Mới đây HHV-8 được phát hiện là loại virus có liên quan với sarcoma Kaposi và có thể với loại ung thư được gọi là lymphoma. Kaposi ” sarcoma là loại u da thường được thấy trong những người đàn ông bị nhiễm HIV. HHV-8 cũng được thấy trong tinh dịch của những người đàn ông bị nhiễm HIV. Những yếu tố này làm tăng khả năng lây nhiễm HHV-8 qua đường tiếp xúc sinh dục.

Tuy nhiên, một số thông báo quan trọng liên quan đến HHV-8 chưa được xác định như : nó có thật sự gây bệnh hay không, lây truyền như thế nào, nó gây ra bệnh gì và việc điều trị như thế nào.

Nhiễm ký sinh trùng (KST) lạc chỗ

1. Nhiễm KST lạc chỗ là

Nhiễm KST lạc chỗ là bệnh gây ra do những côn trùng nhỏ như rệp, chấy, cái ghẻ. Nó lây qua tiếp xúc gần của thân thể, kể cả tình dục. Những KST này ảnh hưởng ở da, tóc và gây ra ngứa.

2. Chấy công cộng là gì ?

Chấy công cộng là những côn trùng nhỏ mà vẫn có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Nghĩa là chúng ta có thể thấy nó mà không cần bất cứ một sự phóng đại nào. Những con chấy này sống trong cộng đồng hoặc trên tóc và gây ra ngứa.

Ðiều trị thường thường với kem gội permethrin 1%, có thể thoa trong những vùng da bị ảnh hưởng và rửa sạch sau 10 phút bằng nước. Những điều trị khác bao gồm xà phòng Lindane 1% dùng trong 4 phút, hoặc pyrethrin với piperonyl butoxide dùng trong 10 phút.

Những thứ này không sử dụng gần mắt vì chúng có thể gây kích thích. Giường ngủ và khăn tắm nên xử trí bằng nước nóng. Tất cả những người có quan hệ tình dục trong tháng trước đó nên được điều trị chí.

3. Cái ghẻ là gì ?

Cái ghẻ cũng là một côn trùng nhỏ mà không thể thấy bằng mắt thường nhưng có thể thấy dưới kính hiển vi. Nó sống trên da gây ra ngứa ở bàn tay, cánh tay, thân mình, chân và mông. Ngứa thường một vài tuần sau khi tiếp xúc và thường liên quan đến những nốt phồng trên chỗ ngứa.

Ðiều trị bằng kem permethrin 5% bôi toàn thân từ cổ trở xuống và sau 8-14 giờ thì rửa. Có cách điều trị khác là lotion 1% hoặc 30 gram kem lidane thoa từ cổ trở xuống và rửa sau 8 giờ. Vì lidane có thể gây dị ứng nên nó không được dùng sau khi tắm hoặc ở những người bệnh da lan rộng hoặc có nổi mẫn ngứa da. Vì lidane có thể được hấp thu vào máu qua vùng da bị bệnh hoặc ẩm.

Cuối cùng, những người có quan hệ tình dục, tiếp xúc gần, những người trong nhà ở chung trong vòng một tháng kể từ khi người kia phát hiện bệnh thì nên đi khám và điều trị.

Những bệnh lý ở đường sinh dục nam.

Khi phát hiện những đốm, bướu hoặc phát ban xuất hiện trên dương vật hoặc bìu, nhiều người lo lắng vì sợ mắc bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục.

Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp những đốm này có thể bình thường hoặc vô hại. Kích cỡ, hình dạng và màu sắc của đốm có thể giúp xác định bệnh lý liên quan.

Nhiều cục u nhỏ dưới da bìu và dưới cuống dương vật: Đó là những nang lông bình thường. Những cục u này thường có hình dạng giống nhau.
Nhiều chỗ sưng u hoặc có hình mái vòm nhỏ quanh đầu hoặc các tuyến dương vật: Chúng có thể là những nốt nhú lên của dương vật, thường xuất hiện ở nhiều đàn ông, từ 10% đến 20%, và có thể xem là bình thường ở những người không cắt bao qui đầu so với người đã cắt bao qui đầu. Những nốt nhú dương vật không gây nhiễm trùng và không cần chữa trị.

Những đốm nhỏ màu tím hoặc đỏ có bề mặt dày giống như mụn cơm: Chúng có thể là u mạch dày sừng, xuất hiện trên trục tuyến hoặc bìu dái. Ở đàn ông có tuổi, chúng thường xuất hiện ở bìu, kể cả người sống độc thân hay người trẻ. Những đốm này không nhiễm trùng và không cần chữa trị.
Một cục u nhỏ giống hạt đậu trên bìu dái có màu trắng như phấn: Có thể là u nang. Những u nang ở bìu dái có thể nhiều hoặc chỉ có một. Chúng không nhiễm trùng và không cần chữa trị, mặc dù một số người chọn phương pháp phẫu thuật để cắt bỏ.

Những mảng màu đỏ có đường viền rõ ràng: Có thể là bệnh vảy nến. Những mảng này có thể là vảy cứng hoặc mềm và có thể gia tăng từ va chạm gây ra bởi thủ dâm hoặc khi sinh hoạt tình dục. Về cơ bản, bệnh vảy nến ở dương vật có thể chữa trị bằng kem chứa thành phần steroid, là bệnh không nhiễm trùng.

Những chỗ sưng u nhỏ, có màu hồng sáng trên đầu dương vật: Có thể là rối loạn da. Những u này thỉnh thoảng có vảy và bằng phẳng. Chúng thường xuất hiện trong một vòng tròn hoặc thành đường thẳng, có thể gây ngứa ngáy. Những tổn thương tương tự có thể xuất hiện ở những vùng khác trên cơ thể, đặc biệt ở cổ tay và cẳng chân. Đó không phải bệnh truyền nhiễm hoặc có hại, nhưng cần chữa trị bằng thuốc. Hầu hết các trường hợp có thể chữa khỏi trong vòng một năm.
Ung nhọt bộ phận sinh dục không được quan tâm chữa trị vì không thường xuyên gây đau: Có thể là ung thư dương vật. Ung thư dương vật thường xuất hiện ở bao qui đầu hoặc đầu dương vật. Ung thư biểu mô tế bào vảy là dạng phổ biến của ung thư dương vật, thường xảy ra ở đàn ông chưa cắt bao qui đầu. Ung thư không nhiễm trùng, nhưng cần chữa trị bằng thuốc. Nếu chữa trị sớm, bệnh sẽ khỏi hẳn.

Nhiều chỗ phồng giộp nhỏ lan ra ở những ung nhọt gây đau: Có thể là bệnh herpes đơn giản. Giai đoạn đầu thường gây đau nhiều và có triệu chứng gây sốt, trong khi nếu tái phát có thể nhẹ hơn. Herpes là nguyên nhân thường gặp của ung nhọt sinh dục. Bệnh có mức độ lây nhiễm cao qua đường tình dục.

Phát ban đỏ gây ngứa kèm theo sưng đầu dương vật: Có thể là viêm nhiễm qui đầu do nấm. Thuật ngữ “viêm nhiễm qui đầu” chỉ đơn giản ám chỉ viêm tấy đầu dương vật. Không cắt bao qui đầu và vệ sinh kém là hai yếu tố gây bệnh, nhưng viêm nhiễm có thể do nguyên nhân khác, cả nhiễm trùng hoặc không nhiễm trùng. Bệnh cần chữa trị bằng thuốc.

(ST)

Tags:
Cùng Chuyên Mục
Chuyện tưởng không có gì phải hỏi. Nhưng cuộc sống có rất nhiều điều bất ngờ và "đêm thần tiên" ...Chi tiết
Có chừng mực thì mới vui lâu Chúng ta đã được đọc khá nhiều tài liệu nói về cảm giác ...Chi tiết

Bí mật điểm G

(1,156 views)
Về điểm Graophubôcơ tuy không gây chấn động nhiều như vấn đề phụ nữ xuất tinh, hơn nữa về mặt ...Chi tiết
Ngẫu Nhiên
Đây là phiên bản thứ 2 sau phiên bản phim Mẹ Kế 2001 có sự tham gia của diễn viên ...Chi tiết
lưu ý video có chứa nội dung tục tĩu(hài tục tĩu) cân nhắc trước khi tải Full (3GP)
Sau khi thất bại thảm hại trước nhóm nhảy Invincible, vũ công đường phố Ash (Hentschel) đã tím kiếm những ...Chi tiết